Chuyển đến nội dung chính

Bài giảng Phòng động mạch

Khám mạch máu ngoại vi

Bài học xem thử — ghi danh khóa học để lưu tiến độ

Bài học này không có video — xem nội dung bên dưới.

KHÁM MẠCH MÁU NGOẠI VI

PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước

Mục tiêu bài giảng:

Sau khi học bài này, học viên có khả năng :

• Mô tả được những nét cơ bản về giải phẫu bệnh, sinh lý bệnh trong các thương

tổn cấp tính thường gặp của động mạch ngoại vi.

• Trình bày được triệu chứng lâm sàng của các thương tổn động mạch ngoại vi

cấp tính thường gặp (vết thương, chấn thương, và tắc động mạch cấp tính). Nêu

được một số triệu chứng chính của chấn thương thần kinh và tĩnh mạch phối

hợp.

• Hiểu được một số triệu chứng của các thương tổn mạch máu ngoại vi cấp tính ít

gặp (phồng - giả phồng động mạch dọa vỡ - vỡ, chấn thương - vết thương tĩnh

mạch đơn thuần, viêm tắc tĩnh mạch).

• Hiểu được triệu chứng lâm sàng chính của một số bệnh mạch máu ngoại vi

không cấp cứu thường gặp, và khái niệm về các thăm dò hình ảnh mạch máu.

1. Đại cương

Khái niệm chung:

• Học khám mạch máu ngoại vi (tức là mạch chi) chủ yếu để biết cách khám và

phát hiện triệu chứng học của các bệnh mạch máu của chi trên và chi dưới.

Nhưng bệnh học mạch máu ngoại vi là một lĩnh vực chuyên khoa rất rộng, bao

gồm nhiều dạng bệnh lý khác nhau, như: bệnh của hệ động mạch, của hệ tĩnh

mạch, của hệ bạch mạch, bệnh bẩm sinh, bệnh mắc phải, bệnh của tuần hoàn

ngọn chi. Chính vì vậy, triệu chứng học của chúng cũng rất đa dạng và phức tạp.

• Tuy nhiên, về mặt lâm sàng, có thể chia bệnh mạch máu ngoại vi thành 2 nhóm:

 Nhóm các bệnh mạch máu: hầu hết bao gồm các bệnh lý của bản thân mạch

máu, rất phức tạp, mang tính chuyên khoa sâu, thường không có hoặc ít tính

chất cấp cứu. Ví dụ bệnh: phồng động mạch, hẹp động mạch do xơ vữa, suy

tĩnh mạch hiển.

 Nhóm các thương tổn mạch máu cấp tính: phần lớn xảy ra trên các mạch máu

bình thường, cơ chế không quá phức tạp, đặc biệt có tính chất rất cấp cứu và

mang tính đa khoa. Trong đó: vết thương, chấn thương và tắc cấp tính động

mạch chi là những thương tổn thường gặp nhất.

• Để đảm bảo mục tiêu học tập, nội dung bài chủ yếu trình bày về triệu chứng học

của các thương tổn cấp tính động mạch chi thường gặp nêu trên. Ngoài ra sẽ giới

thiệu thêm về triệu chứng học của một số thương tổn mạch máu ngoại vi cấp tính

ít gặp hơn, và một vài bệnh mạch máu ngoại vi thường gặp.

Khái niệm mạch ngoại vi chỉ bao gồm những mạch chính - có kích thước lớn của

chi, nên chúng thường được giới hạn như sau:

 Chi trên: động mạch được tính từ động mạch dưới đòn đến động mạch quay -

trụ. Tĩnh mạch thì chỉ tính tĩnh mạch dưới đòn và tĩnh mạch nách.

 Chi dưới: động mạch tính từ động mạch chậu ngoài đến động mạch ở cẳng

chân (chầy trước và sau). Tĩnh mạch thì chỉ tính hệ tĩnh mạch sâu từ tĩnh

mạch khoeo đến tĩnh mạch chậu ngoài.

Dịch tễ học của thương tổn mạch máu ngoại vi cấp tính:

• Thương tổn mạch máu ngoại vi chiếm trên 85% tổng số các chấn thương - vết

thương mạch máu nói chung. Tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, cấp cứu mạch

máu ngoại vi chiếm 2% cấp cứu ngoại khoa chung, và 3,1% cấp cứu ngoại chấn

thương. Trong đó thương tổn mạch chi trên chiếm 57,7% và mạch chi dưới

chiếm 42,3%. Vết thương mạch máu chiếm 62,3%, chủ yếu do tai nạn sinh hoạt

(bị đâm chém), và thường gặp ở chi trên (77,2%). Chấn thương mạch máu chiếm

37,7%, chủ yếu do tai nạn giao thông, và hay gặp ở chi dưới (74,4%). Tuổi trung

bình là 30,3 ± 11,8 - nam giới chiếm 91,9%.

• Tắc cấp tính động mạch chi thường gặp ở dạng nghẽn động mạch (embolism) do

dị vật ở nơi khác - hầu hết từ tim, trôi đến gây tắc mạch ngoại vi. Chủ yếu xảy ra

ở người có bệnh lý trong tim bên trái (> 61%) kết hợp với rối loạn nhịp tim.

Bệnh thường gặp ở độ tuổi 40 - 50, với tỷ lệ nam / nữ xấp xỉ nhau.

Một số nguyên tắc chung khi khám lâm sàng mạch máu ngoại vi:

• Khám đối chiếu 2 bên chi.

• Đối chiếu chi trên - chi dưới.

• Khám toàn thân: vì có nhiều bệnh mạch máu chi là bệnh hệ thống với tổn thương

mạch ở nhiều nơi (như xơ vữa mạch máu), biểu hiện ở mạch chi là hậu quả của

tổn thương chỗ khác (tắc động mạch do huyết khối ở tim), và có những bệnh

mạch chi gây ảnh hưởng tới toàn thân (thông động - tĩnh mạch giai đoạn muộn

gây ảnh hưởng đến tim).

• Lưu ý khám cả những bệnh là yếu tố nguy cơ, liên quan chặt chẽ với một số

bệnh mạch máu như: cao huyết áp, đái đường, hút thuốc lá.

2. Triệu chứng học các thương tổn động mạch chi cấp tính thường

gặp

2.1. Khái niệm:

• Có 3 nguyên nhân gây thương tổn động mạch chi cấp tính thường gặp là: vết

thương, chấn thương động mạch, và tắc động mạch cấp tính.

• Do tuần hoàn động mạch cấp máu cho ngoại vi bị cắt đứt đột ngột, nên cả 3

thương tổn trên đều có đặc điểm lâm sàng chung rất quan trọng là: “Hội

chứng thiếu máu cấp tính phía ngoại vi”.

• Chẩn đoán các thương tổn cấp tính này chủ yếu dựa vào khám lâm sàng.

Chúng là các cấp cứu ưu tiên số 1 trong ngoại khoa, cần được điều trị thật

sớm, tốt nhất trong vòng 6 giờ sau khi bị thương. Nếu để muộn có thể gây ra

các hậu quả và di chứng nặng nề như cắt cụt chi, suy thận, thậm chí tử vong.

2.2. Giải phẫu bệnh:

 Trong vết thương động mạch:

• Nguyên nhân: thường do dao, vật nhọn đâm, các mảnh dị vật, phoi bào bắn

vào, hay do hỏa khí.

• Dạng thương tổn động mạch: (Tham khảo Hình 1).

 Vết thương đứt rời mạch (khoảng 78%): đầu mạch bị đứt thường co tụt

vào tổ chức phần mềm, nên dễ cầm máu bằng băng ép hơn. Chắc chắn gây

thiếu máu cấp tính chi.

 Vết thương bên (khoảng 22%): mạch không co lại được nên thường gây

chảy máu rất nhiều, khó cầm máu bằng băng ép thông thường nếu bị

thương ở đoạn mạch nằm nông dưới da (động mạch cánh tay, động mạch

quay - trụ, động mạch đùi chung). Nếu vết thương nhỏ thường không gây

thiếu máu cấp tính chi, nhưng về sau tiến triển thành bệnh giả phồng động

mạch, hoặc thông động - tĩnh mạch.

• Thương tổn phần mềm và tuần hoàn phụ: tuỳ thuộc tác nhân và cơ chế gây

vết thương, nếu có vết thương phần mềm rộng thì sẽ cắt đứt nhiều hệ thống

tuần hoàn phụ.

1 2 3 4

Hình 1: Các dạng thương tổn trong vết thương động mạch

(1) Vết thương đứt rời - (2) Vết thương bên lớn - (3) Vết thương

bên nhỏ (4) Vết thương giữa động mạch và tĩnh mạch

 Trong chấn thương động mạch:

• Nguyên nhân: thường gặp trong tai nạn giao thông, tai nạn lao động, với 2 cơ

chế gây thương tổn như sau:

 Cơ chế gián tiếp (thường gặp): Do gãy xương hoặc trật khớp - các đầu

xương di lệch, làm động mạch bị giằng kéo hoặc đầu xương gãy chọc vào

động mạch làm mạch bị chấn thương.

 Cơ chế trực tiếp (ít gặp): do va đập trực tiếp vào chi ở vùng có động mạch

đi qua, gây đụng dập nặng phần mềm trong đó có động mạch. Có thể có

hoặc không kèm theo gãy xương tại vị trí bị va đập.

• Dạng thương tổn động mạch: (Tham khảo Hình 2)

 Đụng dập một phần hay toàn bộ chu vi thành mạch trên đoạn ngắn

(thường < 2 cm), gây huyết khối tắc mạch tại chỗ. Nhìn bề ngoài đoạn

mạch dập, chỉ thấy đổi màu tím, chắc và không đập, kích thước mạch gần

như bình thường. Thương tổn này hay gặp nhất (gần 90%).

 Dập nát toàn bộ cả một đoạn mạch (thường 2 - 5 cm), gây đứt rời mạch

hoặc còn dính với nhau bởi một phần tổ chức thành mạch. Hay gặp khi

gãy xương - trật khớp phức tạp và có di lệch nặng, chiếm khoảng 5%.

 Co thắt động mạch: do đầu xương gãy tỳ vào động mạch hoặc di lệch làm

mạch bị căng ra gây co thắt, chiếm khoảng 5%. Có thể gây thiếu máu cấp

• bán cấp tính. Dạng tổn thương này rất thường gặp trong gãy trên lồi cầu

xương cánh tay.

 Bong nội mạc: tuy hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm vì dễ bỏ sót. Do lúc đầu

mạch vẫn lưu thông bình thường, sau đó huyết khối hình thành tại thương

tổn sẽ gây tắc mạch tại chỗ, hoặc trôi xuống gây tắc mạch phía hạ lưu.

1 2 3 4

Hình 2: Các dạng thương tổn trong chấn thương động mạch

(1) Dập nát - đứt rời - (2) Dập nát 1 đoạn - (3) Đụng dập đoạn

ngắn

(4) Đụng dập nhỏ - huyết khối - (5) Co thắt mạch

• Thương tổn phần mềm và tuần hoàn phụ: phần mềm thường bị dập - rách

nhiều do sang chấn và các đầu xương gẫy chọc vào, làm mất rất nhiều hệ

thống tuần hoàn phụ.

• Các vị trí gãy xương hay gây chấn thương động mạch theo cơ chế gián tiếp:

• Chi trên: gãy trên lồi cầu xương cánh tay và chấn thương vùng khuỷu

(50%), gãy xương cẳng tay (33%).

• Chi dưới: các thương tổn quanh gối (khoảng 66%), như vỡ mâm chầy, vỡ

lồi cầu đùi, gãy 1 /3 dưới xương đùi, gãy 1 /3 trên xương chày, trật khớp gối.

Gãy 2/3 dưới cẳng chân chỉ gặp khoảng 27%.

 Trong tắc động mạch chi cấp tính :

• Nguyên nhân: do dị vật từ những ổ bệnh căn ở phía thượng lưu, bị bong ra và

trôi xuống gây tắc động mạch chi. Dị vật thường là cục huyết khối (thường từ

nhĩ trái), mảnh sùi của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn; ngoài ra còn có thể là

mảnh của u trong tim, mảng xơ vữa động mạch chủ.

• Bệnh căn :

 Bệnh van tim: là bệnh căn thường gặp nhất ở Việt Nam. Chủ yếu là bệnh

van 2 lá do thấp có loạn nhịp hoàn toàn, gây hình thành huyết khối trong

nhĩ - tiểu nhĩ trái.

 Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (Osler): tạo các cục sùi trên van 2 lá và

động mạch chủ. Bệnh có xu hướng gặp tăng dần và có liên quan đến sự

gia tăng tỷ lệ tiêm chích ma túy.

 U nhầy nhĩ trái: là 1 dạng u khá lành tính, ít khi gây tắc động mạch chi.

 Phồng động mạch có huyết khối trong lòng: hiếm khi gây tắc động mạch.

 Xơ vữa động mạch: rất hiếm gặp ở Việt Nam.

• Vị trí thường bị tắc trên động mạch chi: (xem Hình 3)

Điểm tắc mạch tiên phát luôn bắt đầu ở ngã 3 của các động mạch lớn, ví dụ:

 Chi trên: chỗ chia quay - trụ của động mạch cánh tay.

 Chi dưới: chạc 3 chủ chậu, chậu trong - chậu ngoài, đùi nông - đùi sâu,

chạc 3 động mạch khoeo.

Muộn hơn, huyết khối sẽ tiếp tục lan dần từ vị trí tắc tiên phát xuống dưới,

làm tắc các nhánh động mạch nhỏ hơn phía hạ lưu, đồng thời làm cản trở sự

cấp máu cho chi dưới chỗ tắc qua hệ thống tuần hoàn phụ.

Hình 3: Tắc ĐM chi cấp tính

(1) Thời điểm mới tắc - (2) Những giờ đầu sau tắc - (3) Giai đoạn muộn sau

tắc

 Các thương tổn phối hợp thường gặp:

• Vết thương ở các vùng khác trong vết thương động mạch (như vết thương ở

ngực, bụng). Chấn thương cơ quan khác trong chấn thương động mạch (như

chấn thương bụng, ngực, sọ não). Bệnh căn và các hậu quả toàn thân trong

tắc động mạch chi cấp tính (như suy tim, suy thận). Các thương tổn phối hợp

đó sẽ làm nặng thêm thương tổn mạch máu.

• Trong vết thương động mạch chi, có thương tổn phối hợp tại chỗ thường gặp

là vết thương thần kinh (chủ yếu ở chi trên), và tĩnh mạch và tùy hành động

mạch. Các thương tổn này ít gặp trong chấn thương mạch máu do cấu trúc

của thần kinh và tĩnh mạch đều mềm mại hơn động mạch.

2.3. Sinh lí bệnh:

• Do thương tổn cấp tính gây ngừng cấp máu đột ngột cho tuần hoàn ngoại vi

qua đường động mạch chính, nên chỉ còn nhờ vào hệ thống tuần hoàn phụ.

Tuy nhiên, do xảy ra đột ngột nên hệ thống tuần hoàn phụ chưa kịp phát triển

để đảm đương, thay thế cho nguồn cấp máu chính. Vì vậy sẽ nhanh chóng

dẫn đến thiếu máu cấp tính của tổ chức phía ngoại vi.

• Theo thời gian, thiếu máu tổ chức nặng dần lên, gây huỷ hoại từng phần rồi

toàn bộ chi, dẫn đến hoại tử chi, lan dần từ phía ngọn tới gốc chi. Người ta

thường chia sự thiếu máu này làm 2 giai đoạn:

 Giai đoạn thiếu máu có hồi phục: tức là trong giai đoạn này, nếu kịp thời

điều trị lập lại lưu thông mạch máu, thì chi sẽ được phục hồi hoàn toàn về

phương diện cấp máu. Giai đoạn này thường được tính trong vòng 6 giờ

sau khi bị thương.

 Giai đoạn thiếu máu không hồi phục: tiến triển dần từ không hồi phục

từng phần đến không hồi phục hoàn toàn, do hiện tượng hoại tử dần dần tổ

chức phía ngoại vi. Khi đã sang giai đoạn này, dù chi chưa bị hoại tử toàn

bộ, nhưng nếu điều trị lập lại lưu thông mạch máu, thì chi phía dưới chỉ

phục hồi một phần về cấp máu cũng như chức năng. Còn khi chi đã hoại

tử hoàn toàn, thì không còn chỉ định bảo tồn chi. Trên lâm sàng, thường

lấy mốc sau 6 giờ là bắt đầu chuyển sang thiếu máu không hồi phục, mức

độ nặng dần theo thời gian, và thường sau 24 giờ thì dẫn đến không hồi

phục hoàn toàn.

• Trên thực tế, tiến triển của các giai đoạn thiếu máu còn chịu ảnh hưởng của

một số yếu tố, ví dụ như :

 Vị trí thương tổn động mạch: nếu bị thương ở dưới 1 nhánh bên lớn thì

thời gian thiếu máu có hồi phục có thể dài hơn, do việc cấp máu qua tuần

hoàn phụ tốt hơn (ví dụ động mạch cánh tay dưới chỗ chia cánh tay sâu,

động mạch đùi nông).

 Mức độ thương tổn phần mềm nhiều thì thiếu máu sẽ nặng hơn do hệ

thống tuần hoàn phụ cũng bị tổn thương.

 Toàn trạng của người bệnh: nếu có rối loạn huyết động, thì thiếu máu tiến

triển nhanh hơn do giảm tưới máu qua hệ thống tuần hoàn phụ ngoại vi.

• Tại chỗ thương tổn mạch máu: do đặc điểm tổn thương giải phẫu bệnh, nên

trong vết thương động mạch, máu chẩy ra ngoài rất nhiều qua vết thương –

dễ phát hiện trên lâm sàng. Còn trong chấn thương động mạch, thường không

gây chảy máu ra ngoài lòng mạch – nên dễ bỏ sót tổn thương trên lâm sàng.

2.4. Triệu chứng lâm sàng:

Triệu chứng lâm sàng quan trọng nhất là “hội chứng thiếu máu cấp tính phía

ngoại vi”, với các triệu chứng thiếu máu thay đổi và diễn biến theo thời gian.

2.4.1. Triệu chứng cơ năng:

• Biểu hiện của thiếu máu cấp tính chi :

 Giai đoạn thiếu máu có hồi phục: tê bì, giảm cảm giác, giảm vận động

phía ngọn chi sau khi bị thương. Đôi khi người bệnh còn cảm nhận được

là chi bị thương lạnh hơn chi lành.

 Giai đoạn thiếu máu nặng: đau nhức tăng dần, rồi dẫn đến mất hoàn toàn

vận động và cảm giác phía ngọn chi.

• Biểu hiện của loại tổn thương:

 Trong vết thương động mạch: sau khi bị thương, thấy chảy máu rất nhiều

qua vết thương, điển hình thấy máu phun thành tia. Đau nhức tại chỗ vết

thương.

 Trong chấn thương động mạch: rất đau, xưng nề vùng bị thương, mất vận

động chi (do gãy xương).

 Trong tắc động mạch cấp tính: thường khởi phát bệnh bằng cơn đột quị

gây giảm hoặc mất đột ngột vận động chủ động của chi.

Ngoài ra, thông qua hỏi bệnh, cần tìm hiểu thêm về cơ chế, tác nhân gây

thương tích, các tiền sử bệnh lý tim mạch.

2.4.2. Triệu chứng toàn thân :

• Nhìn chung: thường ít thay đổi trong ngày đầu. Trong trường hợp hoại tử chi

vì thiếu máu để quá muộn gây nhiễm độc, có thể thấy lơ mơ, vật vã, mạch

nhanh, huyết áp tụt, da niêm mạc nhợt, đái ít.

• Trong vết thương động mạch: có thể thấy dấu hiệu thiếu máu nếu bị mất máu

nhiều qua vết thương, như: da xanh, niêm mạc nhợt, mạch nhanh, thậm trí

sốc mất máu gây tụt huyết áp, chân tay lạnh, vã mồ hôi, lơ mơ.

• Trong chấn thương động mạch: nếu thương tổn xương, phần mềm tại chỗ quá

nặng, hoặc thương tổn phối hợp phức tạp của các cơ quan khác, thì có thể

thấy tình trạng sốc mất máu, sốc chấn thương, như : lơ mơ, da xanh tái, niêm

mạc nhợt, mạch nhanh, huyết áp thấp, chân tay lạnh, vã mồ hôi.

• Trong tắc động mạch cấp tính: biểu hiện toàn thân của các bệnh căn, như, suy

tim, osler, suy thận, cao huyết áp.

2.4.3. Triệu chứng tại chỗ mạch thương tổn :

Chỉ có trong chấn thương - vết thương động mạch. Gồm các động tác nhìn và sờ.

• Trong vết thương động mạch : có 2 khả năng xảy ra

 Thấy có 1 vết thương phần mềm nằm trên đường đi của mạch máu, đã

ngừng chảy máu do được sơ cứu cầm máu (bằng băng ép, khâu vết

thương, ga rô). Quanh vết thương thấy có một khối máu tụ, điển hình sờ

thấy khối máu tụ này đập theo nhịp tim. Thực tế đa số gặp dạng này.

 Thấy 1 vết thương phần mềm nằm trên đường đi mạch máu, dù chưa hoặc

đã được sơ cứu cầm máu, nhưng vẫn thấy chảy máu nhiều, máu đỏ qua

vết thương, điển hình máu phun thành tia. Dạng này ít gặp trên lâm sàng.

• Trong chấn thương động mạch :

 Hoặc các triệu chứng của gãy xương như: xưng nề, biến dạng , lệch trục

chi, nếu là dạng chấn thương mạch theo cơ chế gián tiếp do gãy xương.

 Hoặc các dấu hiệu xưng nề, bầm tím, tụ máu của đụng dập phần mềm

vùng trên đường đi mạch máu, nếu ở dạng chấn thương mạch theo cơ chế

trực tiếp.

2.4.4. Triệu chứng của chi dưới chỗ thương tổn :

Gồm các động tác thăm khám bằng nhìn và sờ. Chủ yếu thấy “Hội chứng thiếu

máu cấp tính phía ngoại vi” với các triệu chứng cụ thể như sau:

• Mầu sắc, nhiệt độ ngọn chi: da nhợt, lạnh.

• Bắt mạch ngoại vi thấy mất hoặc giảm nhiều, vận mạch đầu ngón giảm.

• Biểu hiện của rối loạn cảm giác: đau nhức chi, cảm giác nông giảm dần rồi

mất hẳn, đi từ ngọn chi đến gốc chi.

• Biểu hiện của rối loạn vận động: vận động chủ động giảm dần rồi mất hoàn

toàn, đi dần từ ngọn chi đến gốc chi.

• Biểu hiện của thiếu máu nặng phần mềm: các bắp cơ (như bắp chân) xưng nề,

rất đau nhức, khi sờ nắn vào đau tăng lên.

• Biểu hiện của thiếu máu không hồi phục nặng: xuất hiện các nốt phỏng nước,

khớp bị cứng lại như khớp tử thi, rồi những mảng tím đen rải rác trên da, sau

đó cả một vùng ngọn chi tím đen hoại tử. Nếu vùng hoại tử bị nhiễm trùng sẽ

có mủ, chảy nước và hôi thối.

Phân bố các triệu chứng theo giai đoạn thiếu máu: Các triệu chứng trên không

xuất hiện đồng thời, mà có tính chất diễn biến nặng dần theo thời gian. Để giúp

đánh giá mức độ thiếu máu trên lâm sàng, có thể phân bố các triệu chứng theo giai

đoạn thiếu máu như sau :

 Giai đoạn thiếu máu có hồi phục (thường < 6 giờ): chi nhợt, lạnh, mất mạch,

giảm cảm giác và vận động ngọn chi.

 Giai đoạn thiếu máu không hồi phục một phần (thường > 6 giờ): xuất hiện

thêm dấu hiệu xưng nề - đau nhức bắp cơ, mất cảm giác và vận động phía

ngọn chi.

 Giai đoạn thiếu máu không hồi phục hoàn toàn (thường sau 24 giờ): thêm các

dấu hiệu thiếu máu không hồi phục nặng.

Ngoài ra, khi khám chi dưới chỗ thương tổn, phải lưu ý phát hiện các dấu hiệu

của tổn thương tĩnh mạch và thần kinh phối hợp, đặc biệt hay gặp trong vết thương

động mạch:

• Tổn thương tĩnh mạch: biểu hiện thường rõ khi tổn thương tĩnh mạch sâu ở

chi dưới. Với các triệu chứng: Tím nhẹ ngọn chi, Tĩnh mạch nông dãn to +

Hội chứng thiếu máu cấp tính phía ngoại vi.

• Tổn thương thần kinh: các triệu chứng mất cảm giác và liệt vận động ở vùng

chi phối tương ứng của loại thần kinh bị tổn thương. Hay gặp dạng đứt thần

kinh giữa và thần kinh trụ trong vết thương động mạch chi trên. Ví dụ dấu

liệt cơ gấp (bàn tay khỉ) của đứt thần kinh giữa; dấu hiệu vuốt trụ của đứt

thần kinh trụ; dấu hiệu bàn tay rủ của đứt thần kinh quay; kèm theo các dấu

hiệu mất cảm giác khu trú theo vùng của thần kinh giữa hoặc trụ ở bàn tay.

2.5. Đặc điểm lâm sàng một số tổn thương mạch ngoại vi cấp tính khác:

• Vết thương tĩnh mạch chi đơn thuần, không kèm thương tổn động mạch:

 Vị trí vết thương cũng thường nằm trên đường đi của mạch máu.

 Sau khi bị thương, máu đen chảy dàn giụa qua vết thương, dễ cầm bằng

băng ép.

 Không có dấu hiệu thiếu máu ngoại vi.

 Các tĩnh mạch nông dãn, mầu da hơi tím nhẹ.

• Phồng động mạch chi dọa vỡ: thường gặp trong bệnh giả phồng động mạch

do vết thương - chấn thương chi. Gồm các dấu hiệu của phồng động mạch

(mục 3) + đau vùng khối phồng.

• Phồng động mạch chi vỡ: thường gặp trong giả phồng động mạch do chấn

thương - vết thương chi, hoặc tiêm chích (thuốc, ma túy). Có 2 thể lâm sàng :

 Vỡ dưới da: Hay gặp trong giả phồng do vết thương - chấn thương chi

. Khởi phát bằng dấu hiệu phồng động mạch dọa vỡ. Sau đó dấu hiệu đau

tăng lên nhanh chóng, đau dữ dội, làm giảm hoặc mất vận động chi.

. Mất ranh giới khối phồng, toàn bộ chi ở đó xưng to, căng cứng, mầu da

viêm đỏ nên dễ nhầm là viêm mủ cơ.

. Mạch ngoại vi yếu, nhưng dấu hiệu thiếu máu cấp tính chi không rõ.

. Các tĩnh mạch nông dãn.

 Vỡ ra ngoài: thường gặp trong giả phồng do tiêm chích

. Tiền sử tiêm chích.

. Dấu hiệu phồng động mạch dọa vỡ tại vị trí tiêm chích. Da tại chỗ tiêm

chọc không liền, lở loét.

. Đột ngột chảy máu rất nhiều qua chỗ tiêm chọc trên khối phồng.

. Mạch ngoại vi yếu hay mất nhưng không có thiếu máu cấp tính chi.

• Viêm tắc tĩnh mạch chi:

 Thường bị ở chi dưới, trên các đối tượng có yếu tố nguy cơ cao, như :

Tiền sử viêm tắc tĩnh mạch hoặc mắc bệnh dãn tĩnh mạch; Sau chấn

thương, phẫu thuật phải nằm lâu; Sau chấn thương chi dưới; Đang mang

thai hoặc sau đẻ.

 Các triệu chứng chính :

. Chi xưng to, lan dần về gốc chi.

. Đau nhức, viêm đỏ, toàn bộ phần chi xưng nề.

. Có thể có hội chứng nhiễm trùng.

. Các tĩnh mạch nông dãn, căng, nhìn thấy rõ, ấn không xẹp.

. Không có thiếu máu cấp tính chi do thương tổn động mạch.

3. Triệu chứng học một số bệnh mạch máu thường gặp

3.1. Khái niệm :

• Tuy bao gồm rất nhiều dạng bệnh lý khác nhau, song phần lớn bệnh mạch

máu là những tổn thương không cấp cứu. Triệu chứng lâm sàng đa dạng.

Chẩn đoán và điều trị phức tạp.

• Có thể là bệnh tiên phát như: phồng động mạch, thông động - tĩnh mạch bẩm

sinh, dị dạng mạch máu, u máu.

• Có thể là bệnh thứ phát của bệnh khác hay do chấn thương như: hẹp, phồng

động mạch do xơ vữa, thông động - tĩnh mạch, phồng động mạch do chấn

thương.

• Lại có thể chia thành bệnh của động mạch, bệnh của hệ tĩnh mạch.

3.2. Triệu chứng lâm sàng của một số bệnh thường gặp:

• Hội chứng thiếu máu mãn tính chi dưới do xơ vữa gây hẹp động mạch: đau

cách hồi, mỏi khi vận động, chuột rút, tê chân, mất mạch, loạn dưỡng da, loét

do thiểu dưỡng.

• Phồng động mạch: khối u nằm trên đường đi của mạch máu, đập - dãn nở

theo nhịp tim, nghe có thể thấy thổi tâm thu. Đối với phồng động mạch chi,

đè mạch phía trên thì u nhỏ lại và mất các dấu hiệu trên. Phồng có thể do

bệnh (phồng thật, gặp ở người già, xơ vữa mạch máu), hoặc do chấn thương,

tiêm chích (giả phồng).

• Thông động - tĩnh mạch do chấn thương: có tiền sử chấn thương, dấu hiệu

loạn dưỡng chi (da khô, dầy, loét, hoại tử, chảy máu), tiếng thổi liên tục vùng

vết thương, sờ thấy rung mưu, tĩnh mạch nông dãn to.

• Dãn tĩnh mạch chân (suy tĩnh mạch): bệnh thường gặp ở người lớn tuổi và

phụ nữ, do hở các van tĩnh mạch dẫn đến ứ trệ và dãn tĩnh mạch. Triệu chứng

chính: các tĩnh mạch nông dãn nổi ngoằn ngoèo dưới da (quanh hệ tĩnh mạch

hiển lớn và hiển bé) ở tư thế đứng, có khi tụ thành đám; phù nhẹ ở bàn chân

và mắt cá; các nốt thâm ở mặt da; dấu hiệu làn sóng ngược [nghiệm pháp

Schwartz] (sờ 1 ngón tay vào tĩnh mạch hiển lớn, vỗ nhẹ vào tĩnh mạch hiển

ở phía trên bằng 1 ngón khác, sẽ cảm nhận thấy như sóng vỗ vào ngón thứ

nhất, biểu hiện của hở van tĩnh mạch); nghiệm pháp Trendelenburg (để bệnh

nhân nằm giơ chân lên cao, vuốt từ cổ chân lên đùi rồi đặt garô nhẹ ở gốc đùi,

bảo người bệnh đứng và thả garô, quan sát thấy tĩnh mạch dưới da căng

phồng, nếu thời gian < 30 giây tức là van bị hở + các tĩnh mạch nông dãn dần

từ trên xuống dưới).

4. Các thăm dò hình ảnh

Thăm dò hình ảnh là những phương pháp cận lâm sàng chủ yếu trong chẩn đoán

các thương tổn mạch máu ngoại vi, cũng như các bệnh mạch máu nói chung. Tuy

nhiên, trên thực tế, các thăm dò này chủ yếu phục vụ cho các bệnh mạch máu, còn

trong cấp cứu, chúng chỉ được dùng trong 1 số trường hợp khó chẩn đoán trên lâm

sàng. Bao gồm một số thăm dò chính sau :

• Siêu âm Doppler mạch máu: là thăm dò không chảy máu, rất thịnh hành hiện

nay. Có nhiều loại như: thể hiện bằng âm thanh, ghi trên giấy hay hình ảnh,

hiện đại nhất là Doppler mầu. Cho phép thấy được hình ảnh tắc mạch, hẹp

mạch, phồng mạch, huyết khối, dãn và hở van tĩnh mạch, đánh giá mức độ

thương tổn và nhiều thông số khác.

• Chụp động mạch: là thăm dò có chảy máu, gồm 2 loại chụp là thông thường

và số hóa. Cho thấy hình ảnh tắc mạch, hẹp mạch, hệ tuần hoàn phụ.

• Chụp cắt lớp và chụp cộng hưởng từ: khá thịnh hành hiện nay. Có nhiều dạng

chụp: chụp thường, chụp có bơm thuốc, chụp dựng hình, chụp cắt lớp đa dãy.

Hay sử dụng trong phồng động mạch chủ bụng, chủ ngực và một vài bệnh lí

khác, ít dùng hơn trong bệnh mạch máu ngoại vi.

• Chụp tĩnh mạch: hiện nay chỉ dùng trong một số ít bệnh, như viêm tắc tĩnh

mạch chi, chụp hệ tĩnh mạch chủ trên trong bệnh lý u trung thất.

Tài liệu tham khảo

1. Đặng Hanh Đệ (2000), “Triệu chứng học lồng ngực - mạch máu”, Triệu chứng

học ngoại khoa, NXB y học, tr. 28-62.

2. Đặng Hanh Đệ (2001), “Tắc động mạch cấp tính”, Phẫu thuật cấp cứu tim mạch

và lồng ngực, NXB Y học, tr. 161-170.

3. Đoàn Quốc Hưng (2001), “Thiếu máu chi dưới cấp tính”, Phẫu thuật cấp cứu

tim mạch và lồng ngực, NXB Y học, tr. 190-201.

4. Phạm Quang Phúc, Nguyễn Hữu Ước (2002), “Tìm hiểu sự khác biệt của hội

chứng thiếu máu cấp tính giữa chi trên và chi dưới trong tổn thương mạch máu”,

Ngoại khoa, XLVIII (2), tr. 41-50.

5. Đặng Hanh Sơn (2001), “Chẩn đoán và thái độ xử trí nghẽn động mạch ngoại vi

cấp tính”, Luận văn thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội.

6. Nguyễn Hữu Ước (2001), “Tắc chạc ba chủ chậu cấp tính”, Phẫu thuật cấp cứu

tim mạch và lồng ngực, NXB Y học, tr. 202-207.

7. Nguyễn Hữu Ước (2004), “Khám mạch máu ngoại vi”, Tài liệu học tập môn

ngoại cơ sở, Dự án Việt Nam - Hà Lan, Đại học Y Hà Nội, tr. 101-111.

8. Nguyễn Hữu Ước (2004), “Hội chứng thiếu máu chi”, Tài liệu học tập môn

ngoại bệnh lý, Dự án Việt Nam - Hà Lan, Đại học Y Hà Nội, tr. 156-165.

9. Nguyễn Hữu Ước (2004), “Khám mạch máu ngoại vi”, Kế hoạch bài giảng thực

hành môn ngoại cơ sở, Dự án Việt Nam - Hà Lan, Đại học Y Hà Nội, tr. 25-27.

10.Nguyễn Hữu Ước (2006), “Khám mạch máu ngoại vi”, Bài giảng triệu chứng

học ngoại khoa, NXN Y học, tr. 103-112.

11.Nguyễn Hữu Ước, Chế Đình Nghĩa, Dương Đức Hùng, Đoàn Quốc Hưng,

Nguyễn Công Hựu, Phạm Hữu Lư, Đỗ Anh Tiến, Lê Ngọc Thành (2007), “Đánh

giá tình hình cấp cứu vết thương - chấn thương mạch máu ngoại vi tại bệnh viện

Việt Đức giai đoạn 2004 - 2006”, Ngoại khoa, 57 (4), tr. 12-19.

12.Barral X (1998), Les urgences en chirurgie vasculaire, Masson.

13. Boccalon H (1997), Guide pratique des maladies vasculaires, Editions

Médicales Spélialisées.

14. Descotes J (1983), Le médecin aux mains nues et la pathologie vasculaire,

Collection scientifique Robert & Carriere.

15. Devender Singh, Pinjala Rk (2005), “Management of peripheral vascular”,

Internet journal of surgery, 7 (1).

16. Fiévé G (1998), "Traumatismes complexes des membres inférieurs associes à

des lé sions vasculaires", Les urgences en chirurgie vasculaire, Masson, tr. 155-

164.

17. Kerdiles Y (1998), "Traumatismes vasculaires des membres - Aspects

généraux", Les urgences en chirurgie vasculaire, Masson, tr. 137-154.

18. Rignault D, Pailler J L (1990),“Traumatismes vasculaires des membres”,

Encyclopedie medico-chirurgicale - Techniques chirurgicales : Chirurgie

vasculaire, Mục: 43025.

19. Rutherford R B (1989), Vascular Surgery, W. B. Saunders Company.

20. Watelet J, Peillon C (1990),“Traitement chirurgical des ischémies aigues des

membres”, Encyclopedie medico-chirurgicale - Techniques chirurgicales :

Chirurgie vasculaire, Mục: 43029.P

21. William H S, Erwin R T, Malcolm O P (1989), Vascular injuries of the

extremities Vascular Surgery, W. B. Saunders Company, tr. 613-637.

---

Tài liệu gốc trên Google Drive: https://drive.google.com/file/d/1eclCaC3HmjfFjiHKn-1WUm5BPJEMC0YN/view?usp=sharing

Hỗ trợ qua Email

contact@chiaseyhoc.vn

Gọi điện hỗ trợ

+84 373 002 989

Câu hỏi thường gặp

Giải đáp thắc mắc