Nội dung chung
Giải phẫu 1: Động mạch dưới đòn và các động mạch cảnh
Bài học xem thử — ghi danh khóa học để lưu tiến độ
Bài học này không có video — xem nội dung bên dưới.
ĐỘNG MẠCH DƯỚI ĐÒN VÀ CÁC ĐỘNG MẠCH CẢNH
1. ĐỘNG MẠCH CẢNH CHUNG (COMMON CAROTID ARTERY)
1.1. Nguyên uỷ
Động mạch cảnh chung ở hai bên có nguyên uỷ và đường đi khác nhau: động
mạch cảnh chung phải tách ra từ thân động mạch cánh tay đầu, ở sau khớp ức-đòn
phải; động mạch cảnh chung trái là nhánh của cung động mạch chủ.
1.2. Đường đi và tận cùng
Động mạch cảnh chung trái chạy lên một đoạn ở trong ngực, tới nền cổ thì tiếp
tục đi lên ở cổ giống như động mạch cảnh chung phải. Ở cổ, các động mạch cảnh
chung đi lên dọc ở hai bên thực quản và hầu, tới ngang bờ trên sụn giáp thì tận cùng
bằng cách chia đôi thành động mạch cảnh ngoài và động mạch cảnh trong. Chỗ chẽ
đôi của động mạch cảnh chung và phần đầu động mạch cảnh trong hơi phình rộng
và được gọi là xoang cảnh; tại đây có các bộ phận nhận cảm huyết áp. Cũng tại chỗ
chẽ đôi động mạch có tiểu thể cảnh - nơi có bộ phận nhận cảm nồng độ khí carbonic
máu. Thông tin về huyết áp và nồng độ các chất khí được thần kinh IX báo về các
trung tâm tim-mạch và hô hấp ở hành não để các trung tâm này có những đáp ứng
thích hợp.
1.3. Liên quan
Ở cổ, tĩnh mạch cảnh trong đi sát bên ngoài động mạch cảnh chung, thần kinh X
đi ở sau, trong góc giữa động mạch và tĩnh mạch; cả ba thành phần này được bọc
chung trong một bao mạc gọi là bao cảnh, ơ trong bao cảnh là các tạng cổ như hầu
và thực quản, khí quản và thanh quản, thần kinh thanh quản quặt ngược và thuỳ bên
tuyến giáp; ở phía sau là mỏm ngang các đốt sống cổ, các cơ trước sống và thân
giao cảm cổ ở phía trước-ngoài là cơ ức-đòn-chũm và các cơ dưới móng, trong đó
cơ vai-móng bắt chéo trước bao cảnh.
Đoạn ngực của động mạch cảnh chung trái chạy lên ở trước rồi ở bên trái khí
quản. Nó nằm trước đoạn ngực của động mạch dưới đòn trái, sau thân tĩnh mạch
cánh tay đầu trái và trong màng phổi trung thất bên trái.
Hình 1: Các động mạch cảnh
2. ĐỘNG MẠCH CẢNH NGOÀI (EXTERNAL CAROTID ARTERY)
2.1. Đường đi, tận cùng và liên quan
● Từ xoang cảnh, động mạch cảnh ngoài chạy lên trên và ra ngoài qua hai
vùng, lúc đầu qua vùng tam giác cảnh rồi bắt chéo mặt sâu bụng sau cơ hai
bụng đi vào vùng mang tai. Khi tới sau cổ lồi cầu xương hàm dưới, nó tận
cùng bằng hai nhánh là động mạch thái dương nông và động mạch hàm trên.
● Ba cạnh giới hạn nên tam giác cảnh là cơ ức-đòn-chũm, bụng sau cơ hai
bụng và bụng trên cơ vai-móng. Đoạn đầu của động mạch cảnh trong và đoạn
cuối của động mạch cảnh chung cũng nằm trong tam giác này; ở trong tam
giác cảnh và ở gần nguyên uỷ, động mạch cảnh ngoài ở trước và trong hơn so
với động mạch cảnh trong.
● Trong vùng mang tai, lúc đầu động mạch đi ở mặt trong tuyến mang tai rồi
chui vào đi trong tuyến. Ở đoạn này, động mạch cảnh ngoài cách động mạch
cảnh trong ở phía sau bởi mỏm trâm và các cơ trâm. Ở trong tuyến mang tai,
động mạch cảnh ngoài là thành phần nằm sâu nhất, ở nông hơn là tĩnh mạch
sau hàm dưới và ở nông nhất là thần kinh mặt và các nhánh của nó.
2.2. Phân nhánh
Các nhánh bên. Động mạch cảnh ngoài tách ra các nhánh bên mang tên những
vùng do chúng cấp máu: động mạch giáp trên cấp máu cho tuyến giáp, tiếp nối với
động mạch giáp dưới (nhánh của động mạch dưới đòn); động mạch lưỡi cấp máu
cho lưỡi và sàn miệng; động mặt mặt bắt chéo xương hàm dưới ở trước góc hàm
(nơi có thể sờ thấy mạch đập) đê đi lên cấp máu cho mặt và tiếp nối với động mạch
mắt (nhánh của động mạch cảnh trong) ở góc mắt trong; động mạch chẩm cấp máu
cho da đầu vùng chẩm, tiếp nối với động mạch cổ sâu (nhánh của động mạch dưới
đòn); động mạch tai sau cấp máu cho vùng da đầu sau tai; và động mạch hầu lên
cấp máu cho thành hầu.
Các nhánh tận. Động mạch thái dương nông tiếp tục đi lên, bắt chéo mỏm gò
má xương thái dương ở trước loa tai (nơi có thể sờ thấy mạch đập) và cấp máu cho
da đầu các vùng trán, đỉnh và thái dương. Động mạch hàm trên tách ra nhiều nhánh
cấp máu cho các vùng sâu của mật như các cơ nhai, xương hàm trên, vòm miệng,
xương hàm dưới, ổ mũi, màng não...
Các nhánh của động mạch cảnh ngoài ở hai bên tiếp nối nhiều với nhau. Khi thắt
động mạch cảnh chung, máu từ động mạch cảnh ngoài bên đối diện đi qua các chỗ
tiếp nối sang các nhánh của động mạch cảnh ngoài ở bên có động mạch cảnh chung
bị thắt rồi chảy ngược tới chỗ chẽ đôi của động mạch cảnh chung để vào động mạch
cảnh trong. Đây là lí do khiến thắt động mạch cảnh chung ít nguy hiểm hơn thắt
động mạch cảnh trong.
3. ĐỘNG MẠCH CẢNH TRONG (INTERNAL CAROTID ARTERY)
3.1. Đường đi, liên quan và tận cùng
Từ xoang cảnh, động mạch cảnh trong đi qua bốn đoạn trước khi tách ra các
động mạch cấp máu cho đại não. Lúc đầu, nó cùng tĩnh mạch cảnh trong (ở ngoài)
đi lên ở cổ (đoạn cổ), phần dưới của đoạn cổ nằm trong tam giác cảnh cùng động
mạch cảnh ngoài, phần trên ngăn cách với động mạch cảnh ngoài bởi các cơ trâm
và mỏm trâm. Tiếp đó, động mạch đi qua ống động mạch cảnh của xương thái
dương (ở trước hòm nhĩ) để chui vào trong sọ (đoạn đá). Ra khỏi ống động mạch
cảnh, động mạch đi ra trước, chui vào trong xoang tĩnh mạch hang rồi uốn cong lên
trên chui ra khỏi xoang ở bờ trong của mỏm yên trước (đoạn xoang hang). Cuối
cùng, động mạch chạy ra sau ở dưới mặt dưới cùa đại não (đoạn não) rồi tận cùng ở
chất thủng trước bằng động mạch não trước và động mạch não giữa.
3.2. Phân nhánh
Các nhánh tận của động mạch cảnh trong cấp máu cho hầu hết bề mặt bán cầu
đại não (vỏ não): động mạch não trước cấp máu cho gần hết mật trong bán cầu;
động mạch não giữa cấp máu cho gần hết mặt ngoài bán cầu; cả hai động mạch này
còn cấp máu cho phần mặt dưới bán cầu nằm trước rãnh bên và cho các nhánh
xuyên vào trong bán cầu (nhánh trung tâm).
Ba đoạn cuối của động mạch cảnh trong tách ra nhiều nhánh bén: các nhánh đi
vào hòm nhĩ (ở đoạn đá), các nhánh cho tuyến yên (ở đoạn xoang hang), động mạch
thông sau, động mạch mạch mạc trước và động mạch mắt (ở đoạn não). Động mạch
mắt là nhánh bên lớn nhất. Nó đi qua ống thị giác vào ổ mắt phân nhánh cấp máu
cho: nhãn cầu và các cấu trúc có liên quan, da đầu vùng trán-đỉnh, và ổ mũi; nó tiếp
nối với động mạch mặt (của động mạch cảnh ngoài) tại góc mắt trong.
4. ĐỘNG MẠCH DƯỚI ĐÒN
Động mạch dưới đòn chủ yếu đóng vai trò dẫn máu tới các động mạch của chi
trên nhưng các nhánh bên của nó cấp máu cho nhiều vùng khác nhau: vùng vai.
vùng ngực - bụng, vùng cổ và đặc biệt là não - tuỷ.
4.1. Nguyên uỷ, đường đi - liên quan và tận cùng
Động mạch dưới đòn ở hai bên có nguyên uỷ, độ dài đường đi và liên quan khác
nhau. Động mạch dưới đòn phải tách ra từ động mạch cánh tay-đầu ở sau khớp
ức-đòn phải. Từ đó, nó đi ra ngoài qua nền cổ theo một đường cong lõm xuống dưới
cho đến chỗ tiếp nối với động mạch nách ở sau điểm giữa xương đòn. Mặt sau của
động mach mạch tựa lên sườn trước cùa vùng đỉnh màng phổi; mặt trước bị cơ bậc
thang trước bắt chéo, ở trong chỗ bắt chéo của cơ bậc thang, mặt trước cùa động
mạch bị thần kinh hoành, thần kinh lang thang và tĩnh mạch cảnh trong bắt chéo;
trước các mạch và thần kinh này là cơ ức- đòn-chũm và phần trong xương đòn. Ở
sau cơ bậc thang trước, động mạch tựa lên mặt trên xương sườn I và liên quan với
các thân của đám rối cánh tay: các thân trên và giữa nằm trên động mạch, thân dưới
nằm sau động mạch, ở ngoài cơ bậc thang trước, chỉ có da và lá nông mạc cổ phủ
trước động mạch. Tĩnh mạch dưới đòn nằm trước cơ bậc thang trước.Động mạch
dưới đòn trái tách ra từ cung động mạch chủ. Nó đi lên một đoạn trong ngực tới sau
khớp ức-đòn trái thì tiếp tục đi qua nền cổ trái giống như động mạch dưới đòn phải.
Đoạn ngực của động mạch nằm sau động mạch cảnh chung trái, ngoài thực quản,
trong màng phổi trung thất trái và trước ống ngực. Liên quan đoạn cổ của động
mạch dưới đòn trái cũng hơi khác ở bên phải: nó không bị thần kinh lang thang
bắt chéo nhưng bị ống ngực bắt chéo.
4.2. Nhánh bên và tiếp nối
Nhánh bên của động mạch dưới đòn cấp máu cho nhiều vùng và tiếp nối với nhiều
động mạch khác nhưng sự cấp máu cho não là quan trọng nhất.
Động mạch đốt sống tách ra từ mặt trên của động mạch dưới đòn. Nó chạy lên,
chui qua lỗ mỏm ngang của sáu đốt sống cổ trên và lỗ lớn xương chẩm vào trong
sọ. Ở trong sọ, nó chạy ra trước và lên trên qua mặt trước-bên của hành não và hợp
với động mạch bên đối diện tạo nên động mạch nền ở giữa rãnh hành-cầu. Động
mạch nền đi lên trong rãnh nền ở mặt trước cầu não và khi đi hết rãnh này thì chia
thành hai động mạch não sau. Động mạch não sau cấp máu cho phần chẩm-thái
dương cùa mặt dưới bán cầu đại não. Các nhánh bên của động mạch đốt sống cấp
máu cho tuỷ sống (đoạn nằm trong cột sống cổ), hành não và tiểu não; nhánh bên
của động mạch nên cấp máu cho cầu não, tai trong và tiểu não.
Động mạch ngực trong tách ra từ mặt dưới động mạch dưới đòn và chạy xuống
dọc bờ bên xương ức. Nó tách ra sáu động mạch gian sườn trước vào sáu khoang
gian sườn trên rồi tận cùng bằng động mạch thượng vị trên và động mạch cơ-hoành.
Động mạch thượng vị trên chui vào bao cơ thẳng bụng và tiếp nối với động mạch
thượng vị dưới - nhánh của động mạch chậu ngoài; động mạch cơ-hoành chia thành
ba động mạch gian sườn trước cho ba khoang gian sườn tiếp theo. Các nhánh gian
sườn trước của động mạch ngực trong tiếp nối với động mạch ngực ngoài và động
mạch ngực cùng vai (nhánh ngực) của động mạch nách; chúng cũng tiếp nối với các
nhánh gian sườn sau của động mạch chủ ngực.
Động mạch giáp-cổ là một thân động mạch ngắn. Nó chia thành ba nhánh: động
mạch giáp dưới cấp máu cho tuyến giáp và tiếp nối với động mạch giáp trên (của
động mạch cảnh ngoài); động mạch ngang cổ chạy ra ngoài cấp máu cho cơ thang;
độngmạch trên vai chạy tới mặt sau xương vai, tiếp nối với động mạch dưới vai của
động mạch nách.Động mạch sườn-cổ chia thành hai nhánh: động mạch cổ sau chạy
lên trong khối cơ dày của vùng gáy và tiếp nối với động mạch chẩm của động mạch
cảnh ngoài: động mạch gian sườn trên tách ra thành hai động mạch gian sườn sau
cho hai khoang gian sườn trên.
Hình 2: Động mạch dưới đòn
5. VÒNG ĐỘNG MẠCH NÃO
Ở mặt dưới của não, các nhánh cấp máu cho đại não của cả hai động mạch cảnh
trong và của động mạch nền tiếp nối với nhau tạo nên vòng động mạch não. Vòng
động mạch này được cấu tạo như sau: ở phía trước là hai dộng mạch não trước
nhánh của hai động mạch cảnh trong nối với nhau qua động mạch thông trước.Ở
phía sau là hai động mạch não sau, nhánh tận của động mạch nền. Mỗi động mạch
não sau nối với động mạch cảnh trong cùng bên qua động mạch thông sau.
Hình 3: Các động mạch não
6. CÁC LIÊN HỆ CHỨC NĂNG VÀ LÂM SÀNG
Thắt các động mạch cảnh. Mặc dù các động mạch cấp máu cho não tiếp nối với
nhau tại vòng động mạch não, việc thắt động mạch cảnh trong rất nguy hiểm vì dẫn
tới thiếu máu não trầm trọng, mà các nơron của não dễ bị chết bởi tình trạng thiếu
ôxy. Khi cần giảm lượng máu tuần hoàn qua các động mạch não, chẳng hạn như để
điều trị các phình mạch não, có thể thắt động mạch cảnh chung. Trong trường hợp
này máu sẽ đi qua các tiếp nối giữa của động mạch cảnh ngoài với động mạch cảnh
ngoài bên đối diện và với động mạch dưới đòn; tiếp đó máu sẽ đi vào động mạch
cảnh trong ở bẽn có động mạch cảnh chung bị thắt rồi đi vào não.Vai trò của các
tiếp nối của động mạch dưới đòn. Tuần hoàn bên qua các vòng tiếp nối của động
mạch dưới đòn phát huy tác dụng trong một số tình huống có trở ngại tuần hoàn.
Chẳng hạn khi có hẹp eo động mạch chủ (chỗ hẹp thường ở xa hơn vị trí nguyên uỷ
của động mạch dưới đòn trái), máu từ động mạch dưới đòn sẽ đi qua các tiếp nối
cùa nó với các động mạch gian sườn sau của động mạch chủ ngực và với động
mạch thượng vị dưới của động mạch chậu ngoài để đi xuống cấp máu cho phần
cơ thể ở dưới chỗ hẹp. Các động mạch gian sườn trở nên giãn to.
---
Tài liệu gốc trên Google Drive: https://docs.google.com/document/d/1np5GiTug4W1eRiVLhNrHnvrMaIhGJFzg/edit?usp=drive_link&ouid=117234964786031655202&rtpof=true&sd=true