Chuyển đến nội dung chính

Nội dung chung

tài liệu bài giảng

Bài học xem thử — ghi danh khóa học để lưu tiến độ

Bài học này không có video — xem nội dung bên dưới.

Bài 19: ĐẠI CỰƠNG VÊ HỆ TUẦN HOÀN, CÁC MẠCH CHỦ, TĨNH

MẠCH CỬA, HỆ TĨNH MẠCH ĐƠN

Sau khi học xong bài này bạn sẽ tả được các loại mạch máu, cấu tạo chung của

mạch máu và của riêng mỗi loại mạch máu. Mô tả được các đoạn của động mạch

chủ và phạm vi cấp máu của từng đoạn, các tĩnh mạch chủ và đặc điểm của các

tĩnh mạch dẫn lưu máu cho bụng (tĩnh mạch cửa) và ngực (hệ tĩnh mạch đơn).

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ TIM MẠCH

Hệ tim mạch bao gồm tim đóng vai trò như một cái bơm, và các mạch máu để máu

tuần hoàn qua đó. Ngoài hệ tuần hoàn máu, hệ tim mạch còn gồm cả hệ bạch huyết

gồm các mạch bạch huyết và các hạch bạch huyết - nơi mà bạch huyết chảy qua. 1.

1, Cấu tạo của thành mạch máu

Thành của mạch máu do ba lớp áo tạo nên:

(1) áo trong: Áo trong hay lớp nội mạc được tạo bởi một lớp thượng mô vảy

(gọi là nội mô) nằm trên một màng đáy. Nội mô là một lớp tế bào liên tục, lót mặt

trong của tim và tất cả các mạch máu.

(2) áo giữa: Áo giữa thường là lớp dày nhất do các sợi chun và các sợi cơ trơn tạo

nên. Các sợi chun làm cho mạch máu có tính đàn hồi.

(3) áo ngoài: Áo ngoài chủ yếu do mô xơ tạo nên.

Các sợi giao cảm của thần kinh tự chủ chi phối cơ trơn của mạch máu. Sự hưng

phấn thần kinh giao cảm sẽ kích thích cơ trơn co, làm cho lòng mạch máu hẹp lại.

Tình trạng giảm đường kính lòng mạch máu được gọi là sự co mạch. Trái lại, khi

ức chế thần kinh giao cảm, các sợi cơ trơn giãn ra. Tình trạng đường kính lòng

mạch tăng lên được gọi là sự giãn mạch. Hơn nữa, khi một động mạch hay tiểu

động mạch bị tổn thương, cơ trơn của thành mạch co, dẫn đến tình trạng co thắt

mạch. Sự co mạch này hạn chế máu chảy qua mạch bị tổn thương và làm giảm mất

máu nếu mạch máu đó thuộc cỡ nhỏ.

2. Các loại mạch máu và đặc điểm cấu tạo của từng loại

2.1. Các loại mạch máu.

Các mạch máu dẫn máu từ tim đến các mô là các động mạch. Trên đường đi tới

các mô, động mạch chia nhánh nhỏ dần, từ các động mạch cỡ lớn đến các động

mạch cỡ vừa rồi đến các tiểu động mạch . Tiểu động mạch chia thành các mao

mạch. Các động mạch phân phối theo những quy luật nhất định. Về đường đi,

chúng đi đến cơ quan bằng con đường ngắn nhất; các mạch chính thường đi ở mặt

gấp của các vùng cơ thể và được các cấu trúc khác bảo vệ.

Từ mô trở về tim, máu đi qua các mạch máu có đường kính lớn dần gọi là các tĩnh

mạch: đầu tiên là các tiểu tĩnh mạch -> tiếp đến là các tĩnh mạch lớn hơn và cuối

cùng là các tĩnh mạch chủ.

2.2. Đặc điểm cấu tạo của từng loại mạch máu

• Động mạch và tiểu động mạch:

• Thành động mạch có thêm các lá chun trong và ngoài nằm xen giữa ba lớp áo.

Lượng sợi chun và sợi cơ trơn ở áo giữa biến đổi theo kích thước động mạch.

Áo giữa của các động mạch cỡ lớn có nhiều sợi chun hơn sợi cơ trơn nên các động

mạch cỡ lớn được gọi là các động mạch đàn hồi sức đàn hổi của thành mạch giúp

đẩy máu về phía trước lúc tâm thất giãn.

Áo giữa của các động mạch cỡ vừa có nhiều sợi cơ trơn hơn sợi chun nên chúng

được gọi là các động mạch cơ; các động mạch này có vai trò phân phối máu đến

các cơ quan hay các phần cơ thể nên cũng được gọi là các động mạch phân phối.

Áo giữa của các tiểu động mạch hầu như hoàn toàn do cơ trơn tạo nên. Nhờ cơ

trơn, các động mạch cơ và tiểu động mạch có khả năng điều chỉnh lượng máu chảy

qua mạch.

-Các mao mạch.

Các mao mạch là những vi mạch nối các tiểu động mach và các tiểu tĩnh mạch.

Mao mạch cho phép sự trao đổi chất dinh dưỡng và chất cặn bã giữa máu và các tế

bào của mô qua dịch kẽ có thể sảy ra.

Thành mao mạch do nội mạc tạo nên, không có các lớp áo giữa và ngoài, một chất

nào đó từ máu chỉ cần đi qua một lớp tế bào là tới được dịch kẽ và các tế bào của

mô. Mao mạch dạng xoang rộng hơn các mao mạch bình thường.

Ngoài việc màng đáy vắng mặt hoặc không hoàn chỉnh, mao mạch dạng xoang có

khe giữa các tế bào nội mô rộng hơn, cho phép các protein và các tế bào máu đi từ

mô vào dòng máu.

-Các tĩnh mạch:

Thành tĩnh mạch cũng có ba lớp áo như động mạch nhưng mỏng hơn thành động

mạch vì lớp áo giữa có ít sợi chun và sợi cơ trơn hơn.

Thành tĩnh mạch không có các lá chun ngoài và trong như động mạch.

Áp dụng lâm sàng: Khi bị đứt thì tĩnh mạch xẹp xuống trong khi ở động mạch thì

miệng đứt vẫn mở. Một số tĩnh mạch có van để giúp cho máu chảy về tim bằng

cách ngăn không cho máu chảy ngược lại.

Van được tạo nên bởi một nếp gấp của nội mô, được tăng cường bởi mô liên kểt.

Van có hình bán khuyên với mặt lõm hướng về tim.

• Xoang tĩnh mạch: là một tĩnh mạch có thành mỏng bằng nội mô mà không có cơ

trơn để thay đổi đường kính.

Lớp áo giữa và lớp áo ngoài của xoang tĩnh mạch được thay thế bằng mô liên kết.

Các xoang tĩnh mạch màng cứng đi trong màng não cứng là ví dụ điển hình về

xoang tĩnh mạch.

3. Các tiếp nối

Hầu hết các vùng cơ thể nhận được sự cấp máu đến từ trên một động mạch.

Nhánh mạch liên kết các nhánh của hai hay nhiều động mạch cấp máu cho cùng

một vùng cơ thể được gọi là mạch nối. Những mạch nối giữa các động mạch đem

lại các con đường thay thế để máu đi tới một mô hay cơ quan.

Nếu dòng máu trong một động mạch bị ngừng chảy khi cử động bình thường của

cơ thể ép vào mạch đó hoặc nếu mạch đó bị tắc hay đứt, tuần hoàn tới phần cơ thể

do mạch nàv nuôi dưỡng có thể vẫn được duy trì nhờ các mạch nối. Sự tuần hoàn

máu qua một nhánh mạch nối để thay thế cho một con đường dẫn máu bình thường

được gọi là tuần hoàn bên. Các tiếp nối cũng có thể xảy ra giữa các tĩnh mạch.

Những động mạch không tiếp nối với các động mạch khác được gọi là các động

mạch tận. Khi động mạch tận bị tắc, vùng mô do nó cấp máu sẽ chết vì không có

sự cấp máu thay thế.

4. Các vòng tuần hoàn máu

Có hai vòng tuần hoàn máu :

-Vòng tuần hoàn phổi :gồm động mạch phổi dẫn máu từ tâm thất phải lên phổi

(máu chứa nhiều C02) và các tĩnh mạch phổi dẫn máu từ phổi về tâm nhĩ trái (máu

có nhiều 02).

-Vòng tuần hoàn hệ thống: gồm động mạch chủ dẫn máu từ tâm thất trái đến tất cả

các cơ quan của cơ thể và các tĩnh mạch chủ trên và dưới dẫn máu ở các cơ quan

về tâm nhĩ phải.

5. Các đặc điểm của tuần hoàn thai

Trước khi sinh, cơ thể thai phải phụ thuộc vào cơ thể mẹ để lấy oxy và chất dinh

dưỡng, và đào thải các chất cặn bã. Cơ thể thai liên hệ với cơ thể mẹ qua dây rốn

(chứa động mạch và tĩnh mạch rốn) và nhau thai (chứa mạng mao mạch nối động

mạch và tĩnh mạch rốn). Nhau thai bám vào tử cung mẹ, mạng mao mạch của nhau

tiếp xúc với mạng mao mạch của tử cung mẹ.

Máu giàu oxy và chất dinh dưỡng từ nhau (tạm gọi là máu nhau) được tĩnh mạch

rốn dẫn về nhánh trái tĩnh mạch cửa. Hầu hết máu này không qua gan mà rẽ tắt qua

đường ống tĩnh mạch (ống nối nhánh trái tĩnh mạch cửa với tĩnh mạch chủ dưới) về

tĩnh mạch chủ dưới, pha trộn với máu mất oxy của tĩnh mạch chủ dưới rồi về tâm

nhĩ phải.

Ở tâm nhĩ phải, máu nhau đã pha trộn này pha trộn thêm không đáng kể với máu

mất oxy của tĩnh mạch chủ trên vì van tĩnh mạch chủ dưới có tảc dụng hướng dòng

máu từ tĩnh mạch chủ dưới đi qua lỗ bầu dục vào tâm nhĩ trái, trong khi đó dòng

máu mất oxy của tĩnh mạch chủ trên (từ đầu-cổ-chi trên về) được hướng tới lỗ nhĩ-

thất phải để đi xuống tâm thất phải.

Từ tâm nhĩ trái, máu nhau (đã pha trộn), cùng một lượng nhỏ máu mất oxy từ hai

phổi về, đi xuống tâm thất trái rồi được tống vào động mạch chủ.

Một phần máu nàỵ đi theo động mạch vành và các nhánh của cung động mạch chủ

đi nuôi tim, đầu – cổ và chi trên. Phần còn lại tiếp tục đi tới những vùng khác của

cơ thể thai theo đường động mạch chủ xuống. Phần này có hàm lượng oxy thấp

hơn phần máu đi nuôi tim và đầu - cổ - chi trên vì bị pha thêm với máu mất oxy

của tĩnh mạch chủ trên theo cách sau: máu mất oxy của tĩnh mạch chủ trên đi vào

tâm thất phải và được tống ra thân động mạch phổi.

Do phổi chưa hoạt động, chỉ một lượng nhỏ máu này lên phổi rồi về tâm nhĩ trái,

còn phần lớn đi qua ống động mạch vào động mạch chủ xuống (ở sau chô tách ra

động mạch dưới đòn trái) để pha với máu giàu oxy từ cung động mạch chủ đi

xuống. Một phần đáng kể máu này đi tới nhau theo đường hai động mạch rốn

(nhánh của hai động mạch chậu trong) để trao đổi khí và các chất rồi lại trở về thai

theo tĩnh mạch rốn.

Tóm lại, tuần hoàn thai có các đặc điểm là: Có những mạch máu liên hộ với cơ thể

mẹ về trao đổi chất (động mạch, tĩnh mạch rốn và mạng mao mạch nhau) và tạo

nên tuần hoàn nhau thay thế cho chức năng của các vòng tuần tuần hoàn tới phổi,

ruột và thận của thai;

Có ba đường rẽ tắt (ống tĩnh mạch, lỗ bầu dục và ống động mạch) giúp cho máu từ

nhau không phải đi qua những nơi không cần thiết (gan, phổi), làm tãng tốc độ

tuần hoàn qua nhau, đồng thời đảm bảo được cơ chế ưu tiên máu giàu oxy hơn cho

các cơ quan quan trọng như tim và não.

Những biến đổi của tuần hoàn thai sau khi sinh: Sau khi trẻ ra đời, dây rốn được

thắt làm ngừng tuần hoàn qua nhau; điều này làm cho 02 trong máu bị giảm xuống

còn C02 thì tăng lên, trung tâm hô hấp ở hành não bị kích thích làm đứa trẻ cất

tiếng khóc chào đời và hô hấp bằng phổi bắt đầu hoạt động.

Áp lực tâm nhĩ phải giảm xuống do nguồn máu từ tĩnh mạch rốn về không còn;

phổi nở ra và nhận nhiều máu, lượng máu về tâm nhĩ trái tăng lên làm áp lực hai

tâm nhĩ cân bằng, lỗ bầu dục được đóng lại (do sự áp sát rồi hoà lẫn vào nhau của

hai vách tiên phát và thứ phát).

Ống động mạch nghẽn lại rất nhanh ngay sau khi sinh (tịt hẳn thì phải sau vài tuần

hay vài tháng) rồi teo lại thành một dây xơ gọi là dây chằng động mạch.

Tĩnh mạch rốn bị nghẽn do huyết khối rồi dần biến thành dây xơ có tên là

dâychằng tròn của gan. Ống tĩnh mạch cũng bị nghẽn như vậy rồi trờ thành dây

chằngtĩnh mạch.

Các động mạch rốn bị tắc nghẽn từ chỗ chúng tách ra động mạch bằng quang trên

đến rốn; đoạn này sẽ biến thành dây xơ nầm trong tổ chức mỡ ngoài phúc mạc của

thành bụng gọi là thítng động mạch rốn.

Sau khi sinh, đứa trẻ sẽ mắc tật thông liên nhĩ nếu lỗ bầu dục không đóng kín tất

còn ống động mạch nếu ống động mạch không tịt lại.

II. TUẦN HOÀN HỆ THỐNG

Tuần hoàn hệ thống là vòng tuần hoàn đưa máu giàu oxy và chất dinh dưỡng từ

tâm thất trái qua hệ động mạch chủ tới tất cả các mô và cơ quan trong cơ thể rồi

máu mất oxy từ các mô được các tĩnh mạch chủ trên và dưới đưa về tâm nhĩ phái..

1. Các mạch máu lớn (mạch chủ) của tuần hoàn hệ thống và sự cấp máu ở

ngực và bụng

1.1. Động mạch chủ

Động mạch chủ xuất phát từ lỗ động mạch chủ của tâm thất trái. Từ đây, động

mạch đi theo từng đoạn có tên gọi khác nhau, mỗi đoạn chia nhánh tới từng phần

cơ thể.

Lúc đầu động mạch chạy chếch lên trên, ra trước và sang phải và mang tên là phần

lên động mạch chủ hay động mạch chủ lên. Phần này nằm ở bên phải thân động

mạch phổi, trước động mạch phổi phải và kết thúc ở ngang mức góc ức bằng cách

liên tiếp với cung động mạch chủ.

Tiếp đó cung động mạch chủ uốn cong lên trên, ra sau và sang trái, rồi lại cong

xuống dưới tới ngang sườn trái đĩa gian đốt sống ngực IV - V thì liên tiếp với phân

xuống động mạch chủ. Cung động mạch chủ lần lượt đi ờ trước rồi ở bên trái khí

quản, trên phế quản chính trái.

Từ sườn trái đĩa gian đốt sổng ngực IV - V, phần xuống động mạch chủ hay động

mạch chủ xuống đi xuống ở sau tim và thực quản, trước sườn trái cột sống, càng đi

xuống thì càng vào gần đường giữa, tới ngang đốt sốmg ngực XII thì chui qua lỗ

động mạch chủ của cơ hoành vào bụng.

Ở bụng, động mạch chủ xuống đi sát trước thân các đốt sống thắt lưng và khi tới

khoảng ngang mức đĩa gian đốt sống thắt lưng IV - V thì tận cùng bằng cách chia

thành các động mạch chậu chung phải và trái (và một nhánh nhỏ là động mạch

cùng giữa). Vì đi qua ngực và bụng, động mạch chủ xuống lại được chia thành

phần ngực hay động mạch chủ ngực và phần bụng hay động mạch chủ bụng.

Mỗi phần động mạch chủ phân nhánh cấp máu cho một phần cơ thể.

• Phần lên tách ra các động mạch vành phải và trái cấp máu cho tim

• Cung động mạch chủ tách ra ba động mạch lớn cấp máu cho đầu-cổ và chi trên.

Cả ba nhánh này đều tách ra ở mặt trên của cung, tính từ phải sang trái là: thân

động mạch cánh tay-đầu, động mạch cảnh chung trái và động mạch dưới đòn trái.

Thân động mạch cánh tay đầu khi chạy lên tới sau khớp ức-đòn phải thì chia thành

độngmạch cảnh chung phải và động mạch dưới đòn phải. Các động mạch cảnh

chung và dưới đòn ở hai bên tuy có nguyên uỷ khác nhau nhưng cách phân nhánh

của chúng ở hai bên giống nhau: động mạch cảnh chung cấp máu cho đầu-cổ, động

mạch dưới đòn cấp máu cho chi trên và một phần đầu-cổ

Động mạch chủ ngực tách ra nhiều nhánh cấp máu cho thành ngực, cơ hoành và

các cơ quan trong lồng ngực:

• Hai nhánh phế quản cấp máu cho phế quản và phổi ở hai bên; 2 - 5 nhánh

thực quản cấp máu cho đoạn ngực của thực quản; các nhánh màng ngoài tim;

các nhánh trung thất.

• Hai động mạch hoành trên; 9 cặp động mạch gian sườn sau đi dọc bờ dưới

các xương sườn III - XI và một cặp động mạch dưới sườn đi dưới xương sườn

XII. Các động mạch gian sườn sau cấp máu cho xương - cơ - da của lưng (cả

tuỷ sống và dây thần kinh sống ở đoạn ngực), thành ngực và thành bụng.

• Các nhánh tuỷ sống.

Động mạch chủ bụng cho các nhánh bên cấp máu cho thành bụng và các tạng

bụng.

Các nhánh thành bụng bao gồm 2 động mạch hoành dưới và 4 cặp động machthắt

lưng tách ra từ các mặt sau-bên cấp máu cho các đoạn của vùng thắt lưng.Các

nhánh cho tạng bụng bao gồm ba nhánh đơn tách ra từ mặt trước (độngmạch thân

tạng, động mạch mạc treo tràng trên và động mạch mạc treo tràng dưới) và ba cặp

nhánh tách ra từ các mặt bên (các cặp động mạch thận, thượng thận giữa và sinh

dục). Dưới đây xin sơ bộ mô tả các động mạch cấp máu cho tạng bụng

• Động mạch thân tạng tách ra ở ngay dưới cơ hoành, ngang mức đốt sông ngực

XII, và chia ngay thành ba nhánh:

• Động mạch vị trái cấp máu cho dạ dày (cùng các động mạch khác)

• Động mạch lách chạy dọc bờ trên của tuỵ đến cấp máu cho lách: trên đường

tới lách, động mạch này còn phân nhánh vào thân và đuôi tuy và vào dạ dày

(động mạch vị- mạc nối trái và các động mạch vị ngắn).

• Động mạch gan chung tách ra ba nhánh:

(i) động mạch vị-tá tràng chia thành các động mạch tá-tuỵ trên (trước và sau) cấp

máu cho tá tràng và đầu tuỵ, và động mạch vị-mạc nối phải cấp máu cho dạ dày;

(ii) động mạch vị phải cấp máu cho dạ dày

(iii) động mạch gan riêng cấp máu cho gan và túi mặt

• Động mạch mạc treo tràng trên tách ra từ mặt trước động mạch chủ bụng,ngang

mức đĩa gian đốt sống ngực XII - thắt lưng I. Nó tách ra động mạch tá-tuỵ dưới

(vào tá tuỵ), các động mạch hỗng tràng và hồi tràng (nuôi toàn bộ ruột non) và các

động mạch cấp máu cho ruột thừa, manh tràng, đại tràng lên và đại tràng ngang.

• Động mạch mạc treo tràng dưới tách ra từ mặt trước động mạch chủ bụng. dưới

nguyên uỷ động mạch mạc treo tràng trên. Nó tách ra động mạch lên, động mạch

đại tràng trái (cấp máu cho đại tràng xuống), động mạch sigma (cấp máu cho đại

tràng sigma) và các động mạch trực tràng trên (cấp máu cho phần trên trực tràng).

• Các động mạch thận cấp máu cho thận

• Các động mạch tình hoàn hoặc buồng trứng

• Các động mạch thượng thận giữa cấp máu cho tuyến thượng thận (cùng với động

mạch thượng thận trên đến từ động mạch hoành dưới và động mạch thượng thận

dưới tách ra từ động mạch thận).

Mỗi nhánh tận của động mạch chủ {động mạch chậu chung) lại tận cùng bằng hai

nhánh: động mạch chậu ngoài chạy dọc theo cơ thắt lưng lớn vào đùi và trở thành

Động mạch đùi cấp máu cho chi dưới; động mạch chậu trong chạy vào chậu hông

bé cấp máu cho các tạng chậu hông và thành chậu hông, đáy chậu và mông.

1.2. Các tĩnh mạch chủ

Có hai tĩnh mạch chủ: tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới.

-Tĩnh mạch chủ trên thu nhận máu tĩnh mạch của đầu, cổ, chi trên và ngực (tức là

toàn bộ phần cơ thể trên cơ hoành).

+Máu tĩnh mạch của chi trên (và một phần đầu - cổ) tập chung về tĩnh mạch dưới

đòn- hầu hết máu tĩnh mạch của đầu - cổ đổ về tĩnh mạch cảnh trong. Các tĩnh

mạch này hợp nên tĩnh mạch cánh tay-đầu ở sau sụn sườn II.

+Tĩnh mạch cánh tay-đầu ở hai bên hợp thành tĩnh mạch chủ trên. Tĩnh mạch chủ

trên đi xuống dọc bờ phải xương ức và đổ vào tâm nhĩ phải.

-Máu tĩnh mạch của ngực đổ về một hệ thống gồm ba tĩnh mạch: tĩnh mạch đơn

tĩnh mạch bán đơn và tĩnh mạch bán đơn phụ.

• Tĩnh mạch đơn nằm ở sườn phải của cột sống ngực; nó đi từ đốt sống ngực XII

tới đốt sống ngực IV thì vòng ra trước trêncuống phổi phải đổ vào tĩnh mạch chủ

trên.

+Tĩnh mạch đơn tiếp nhận tất cả các nhánh tĩnh mạch đi kèm các nhánh của động

mạch chủ ngực ờ bên phải và cả ba tĩnh mạch gian sườn trên bên phải.

• Tĩnh mạch bán đơn và tĩnh mạch bán đơn phụ đều nằm ở sườn trái cột sống ngực

(tĩnh mạch bán đơn ở dưới và tĩnh mạch bán đơn phụ ở trên). Chúng thu nhận các

tĩnh mạch đi kèm các nhánh của động mạch chủ ngực ở bên trái rồi đổ về tĩnh

mạch đơn (ba tĩnh mạch gian sườn trên bên trái đổ về tĩnh mạch cánh tay đầụ trái).

-Tĩnh mạch chủ dưới do các tĩnh mạch chậu chung phải và trái hợp thành ở ngang

bờ phải đốt sống thắt lưng IV; mỗi tĩnh mạch chậu chung do một tĩnh mạch chậu

trong (thu máu tĩnh mạch của chậu hông) và một tĩnh mạch chậu ngoài (thu máu

tĩnh mạch từ chi dưới) hợp thành.

+Tĩnh mạch chủ dưới chỉ trực tiếp nhận các tĩnh mạch đi kèm với các nhánh bên

của động mạch chủ bụng mà cấp máu cho thành bụng, cơ hoành, thận, tuyến sinh

dục và tuyến thượng thận.

• Máu tĩnh mạch từ dạ dày, ruột, tuỵ, lách và túi mật (tức là những cơ quan do các

động mạch thân tạng, mạc treo tràng trên và mạc treo tràng dưới cấp máu) không

trực tiếp đổ về tĩnh mạch chủ dưới mà tập chung về tĩnh mạch cửa tĩnh mạch cửa

lại chia thành một mạng lưới mao mạch ở gan và từ mạng lưới này máu tập chung

về tĩnh mạch gan rồi đổ về tĩnh mạch chủ dưới.

• Như vậy, tĩnh mạch cửa nằm giữa hai mạng mao mạch và vì vậy còn được gọi là

tĩnh mạch gánh.

+Tĩnh mạch cửa được hình thành ở sau khuyết tuỵ do sự hợp lại của tĩnh mạch mạc

treo tràng trên và tĩnh mạch tỳ; tĩnh mạch tỳ còn tiếp nhận tĩnh mạch mạc treo

tràng dưới.

+Tĩnh mạch cửa chạy chếch lên trên, sang phải và ra trước giữa hai lá của mạc nối

nhỏ rồi tận cùng thành hai nhánh phải và trái ở cửa gan.

+Trên đường đi tĩnh mạch cửa tiếp nhận các tĩnh mạch của dạ dày, tỳ, tá-tuỵ, túi

mật và thành bụng. Hai nhánh tận của tĩnh mạch cửa (dẫn máu chứa các chất hấp

thu được từ ống tiêu hoá về gan để gan chế biến) cùng các nhánh của động mạch

gan (dẫn máu giàu oxy tới nuôi gan) đi vào trong gan và phân chia nhỏ dần tới

mạng lưới mao mạch gan.

+Tĩnh mạch cửa của gan là một trong những lộ trình xen kẽ của tuần hoàn hệ

thống. Máu tĩnh mạch từ đầu dưới thực quản, trực tràng và da bụng vừa đổ về hệ

thống tĩnh mạch chủ vừa đổ về hệ thống tĩnh mạch cửa (hai hệ nối với nhau tại

những chỗ này).

---

Tài liệu gốc trên Google Drive: https://drive.google.com/file/d/1tMpacN7A6bpaD0TozZSznOa_5JsBmn-o/view?usp=sharing

Email Support

contact@chiaseyhoc.vn

Phone Support

+84 373 002 989

FAQ

Find answers