Nội dung chung
Giải phẫu 1: Các cơ vùng cẳng chân và bàn chân
Bài học xem thử — ghi danh khóa học để lưu tiến độ
Bài học này không có video — xem nội dung bên dưới.
CƠ CẲNG CHÂN VÀ BÀN CHÂN
1. CÁC CƠ VÀ MẠC CỦA VÙNG CẲNG CHÂN
Cẳng chân được chia thành hai vùng trước và sau bởi xương chày, màng gian cốt, xương mác và
vách gian cơ cẳng chân sau. Vùng cẳng chân trước lại được chia thành hai ngăn trước và ngoài
bởi vách gian cơ cẳng chân trước. Như vậy, cẳng chân có ba ngăn mạc: ngăn trước, ngăn ngoài
và ngăn sau.
1.1. Các cơ trong ngăn trước (Bảng 1)
Ngăn này chứa cơ chày trước, cơ duỗi các ngón chân dài, cơ duỗi ngón chán cái dài và cơ mác
ba. Chức năng của các cơ này là gấp mu chân tại khớp cổ chân và duỗi các ngón chân. Chúng
được vận động bởi các nhánh của thần kinh mác sâu, một nhánh của thần kinh mác chung, ở
vùng cổ chân, gân của các cơ này chạy dưới các hãm gân duỗi trên và dưới.
Bảng 1
Cơ Nguyên ủy Bám tận Động tác
Cơ chày trước Lồi cầu ngoài và nửa Các mặt trong và Gấp mu bàn chân
(tibialis anterior) trên mặt ngoài xương dưới của xương chêm (duỗi bàn chân) và
chày. trong và nền xương nghiêng trong bàn
đốt bàn chân I chân
Cơ duỗi ngón chân 1/3 giữa mặt trong Mặt mu của nền đốt Duỗi ngón chân cái
cái dài xương mác và màng xa ngón chân cái. và gấp mu chân.
(extensor hallucis gian cốt.
longus)
Cơ duỗi các ngón Lồi cầu ngoài xương Các đốt giữa và xa Duỗi bốn ngón chân
chân dài chày, 3/4 trên mặt của 4 ngón chân ngoài và gấp mu
(extensor digitorum trong xương mác và ngoài chân
longus) màng gian cốt
Cơ mác ba 1/3 dưới mặt trong Mặt mu của nền Gấp mu chân và
(peroneus tertius) xương mác và màng xương đốt bàn chân nghiêng bàn chân ra
gian cốt V ngoài
1.2. Các cơ trong ngăn ngoài (của vùng cẳng chân trước)
Ngăn ngoài được giới hạn bởi mặt ngoài xương mác, các vách gian cơ cẳng chân trước và sau,
và mạc cẳng chân. Ngăn này chứa cơ mác dài và cơ mác ngắn vốn là những cơ có tác dụng gấp
gan chân và nghiêng ngoài bàn chân. Chúng đều do thần kinh mác nông, nhánh của thần kinh
mác chung, chi phối.
1.2.1. Cơ mác dài (peroneus longus) là cơ nông hơn trong số hai cơ mác.
Nguyên uỷ: chỏm và 2/3 trên mặt ngoài xương mác. Cơ còn bám cả vào các vách gian cơ cẳng
chân trước và sau.
Bám tận: gân cơ mác dài chạy vòng sau mắt cá ngoài, ở dưới hãm cơ mác trên. Tiếp đó, gân
chạy dưới ròng rọc mác của xương gót để đi vào rãnh gân cơ mác dài của xương hộp. Cuối
cùng, gân chạy chếch qua gan chân để tới bám tận vào nền xương đốt bàn chân I và xương
chêm trong.
Động tác: gấp gan chân và nghiêng ngọài bàn chân; giữ vững các vòm gan chân
Hình 1: Các cơ vùng cẳng chân trước
Hình 2: Các cơ khu cẳng chân trước ngoài
1.2.2. Cơ mác ngắn (peroneus brevis)
Nguyên uỷ: 2/3 dưới mặt ngoài xương mác, các vách gian cơ cẳng chân trước và sau.
Bám tận: gân cơ chạy qua một rãnh ờ mặt sau mắt cá ngoài và có thể sờ thấy ở dưới mát cá
ngoài. Tại đây, nó nằm trong một bao gân chung với gân cơ mác dài. Cuối cùng, gân bám tận
vào mặt mu của lồi củ xương đốt bàn chân V (nằm ở mặt ngoài nên xương đốt bàn chân V).
Động tác: giống cơ mác dài nhưng vai trò giữ các vòm gan chân kém cơ mác dài (vì gân không
chạy qua gan chân).
1.3. Các cơ vùng cẳng chân sau (ngăn sau)
Các cơ vùng cẳng chân sau được chia thành các nhóm nông và sâu bởi vách gian cơ ngang cẳng
chân (mạc ngang sâu cắng chân).
Nhóm cơ nông bao gồm cơ tam đầu và cơ gan chân. Cơ tam đầu do cơ bụng chân (với hai đầu
trong và ngoài) và cơ dép tạo nên. Đây là cơ to khoẻ tạo nên bắp chân (phần lồi của vùng cẳng
chân sau). Kích thước lớn của cơ tam đầu là một đặc trưng của cơ bắp người và liên quan trực
tiếp đến tư thế đứng thẳng của loài người. Cơ này cần to khoẻ vì nó phải chống đỡ và dịch
chuyển sức nặng của cơ thể.
Động tác của nhóm cơ nông là gấp gan chân.
Hình 3. Các cơ khu cẳng chân sau
Bảng: các cơ vùng cẳng chân sau
Cơ Nguyên ủy Bám tận Động tác
Cơ bụng chân Đầu ngoài: lồi cầu Gân cơ dép và gân cơ Gấp cẳng chân, gấp
(gastrocnemius) ngoài xương đùi gan chân hợp với gân gan chân, nâng gót
Đầu trong: diện cơ bụng chân tạo lên khi đi
khoeo của xương đùi, thành gân gót. Gân
trên lồi cầu trong gót bám vào mặt sau
xương gót.
Cơ dép Chỏm và 1/4 trên mặt Gấp gan chân và giữ
(soleus) sau xương mác; vững cẳng chân trên
đường cơ dép và 1/3 bàn chân (kiễng chân)
giữa bờ trong xương
chày.
Cơ gan chân Đầu dưới đường trên Hỗ trợ cơ bụng chân
(plantaris ) lồi cầu ngoài và dây trong gấp gan chân
chằng khoeo chéo và gấp cẳng chân
Cơ khoeo Mặt ngoài lồi cầu Mặt sau xương chày, Gấp và xoay trong
(popliteus) ngoài xương đùi và trên đường cơ dép cẳng chân
sụn chêm ngoài
Cơ gấp ngón chân 2/3 dưới mặt sau Nền đốt xa ngón chân Gấp ngón chân cái,
cái dài xương mác và phần cái gấp gan chân và
(flexor hallucis dưới màng gian cốt nghiêng trong bàn
longus) chân
Cơ gấp các ngón Nửa trong của 1/3 Nền của đốt xa bốn Gấp bốn ngón chân
chân dài giữa mặt sau xương ngón chân ngoài bằng ngoài, gấp gan chân
(flexor digitorum chày, dưới đường cơ 4 gân và xoay bàn chân vào
longus) dép. trong
Cơ chày sau Màng gian cốt và mặt Củ xương thuyền, ba Gấp gan chân và
(tibialis posterior) sau xương chày, mặt xương chêm và nền nghiêng trong bàn
trong xương mác của các xương đốt chân
bàn chân II, III và IV
2. CÁC CƠ Ở BÀN CHÂN
2.1. Cơ ở mu chân
Chỉ có một cơ nhỏ ở mu chân, cơ duỗi các ngón chân ngắn (extensor digitorum brevis), và cơ
này tương đối ít quan trọng.
Nguyên uỷ: mặt trên và ngoài của phần trước xương gót, ở phía trước-trong mắt cá ngoài.
Bám tận: cơ chia thành bốn bó đến bám vào nền đốt gần ngón cái và vào gân đi vào các ngón
chân II, III và IV của cơ duỗi các ngón chân dài. Bó đi vào ngón chân cái được gọi là cơ duỗi
ngón cái ngắn (extensor hallucis brevis).
Động tác: hỗ trợ cơ duỗi ngón cái dài và cơ duỗi các ngón chân dài trong việc duỗi các ngón
chân I - IV.
2.2. Các cơ ở gan chân
Có bốn lớp cơ ở gan chân. Các cơ này đã được biệt hoá để giúp giữ vững các vòm gan chân và
làm cho con người đứng vững trên mặt đất hơn là để thực hiện các chức năng tinh tế như các cơ
ờ bàn tay.
Lớp cơ nông (lớp thứ nhất) gồm ba cơ, tất cả đều đi từ phần sau cùa xương gót tới các ngón
chân. Tính từ trong ra ngoài, ba cơ của lớp nông là: cơ giạng ngón cái, cơ gấp cúc ngón chân
ngắn và cơ giạng ngón út. Cả ba cơ này hợp thành một nhóm đóng vai trò giữ vững các vòm
gan chân và duy trì độ lõm của gan chân.
Lớp cơ giữa (lớp thứ hai) gồm hai cơ nội tại của gan chân là cơ vuông gan chân và các cơ giun.
Lớp này còn có gân của cơ gấp các ngón chân dài và cơ gấp ngón cái dài từ cẳng chân đi xuống.
Gân cơ gấp các ngón chân dài bắt chéo mặt ngón của gân cơ gấp ngón cái dài và là chỗ bám các
cơ nội tại của gan chân.
Hình 4. Các cơ ở bàn chân
3. MẠC VÀ CÁC NGĂN MẠC CỦA CẲNG CHÂN
Mạc (mạc sâu) của cẳng chân bao bọc cẳng chân và liên tiếp ở trên với mạc đùi. Nó bám vào
các bờ trước và trong của xương chày. Hai vách gian cơ cẳng chân, vách trước và vách sau, từ
mặt sâu của mạc cẳng chân chạy tới bám vào xương mác. Các vách này, cùng với màng gian
cốt, chia cẳng chân thành ba ngăn mạc: ngăn trước (ngăn cơ duỗi), ngăn sau (ngăn cơ gấp) và
ngăn ngoài (ngăn mác). Ngăn mạc sau được mạc ngang sâu chia thành phần nông và phần sâu.
4. CÁC HÃM GÂN CỦA CỔ CHÂN
Ở vùng cổ chân, mạc cẳng chân dày lên để tạo nên một loạt hãm gân để giữ các gân tại vị trí.
Hãm gân cơ duỗi trên (superior extensor retinaculum) là một dải mạc dày bám vào các bờ
trước của đầu xa các xương chày và mác. Nó tách ra để bao bọc gân cơ chày trước ở gần đầu
trong của nó.
Hãm gân cơ duỗi dưới (inferior extensor retinaculum) là một dải mạc hình chữ Y với cuống
của chữ Y bám vào mặt trên của phần trước xương gót. Trụ trên của chữ Y bám vào mắt cá
trong còn trụ dưới liên tiếp với cân gan chân ở bờ trong bàn chân. Các vách sợi từ mặt sâu cùa
hãm gân duỗi dưới ngãn cách các gân duỗi với nhau, mỗi gân nằm trong một ngăn riêng và
được lót bằng bao hoạt dịch.
Hãm gân gấp (flexor retinaculum) là một dải mạc dày từ mắt cá trong chạy xuống dưới và ra
sau tới bám vào mặt trong xương gót. Nó giữ cho gân của các cơ lớp sâu vùng cẳng chân sau áp
sát vào mặt trong gót chân, mỗi gân nằm trong một ngăn riêng và được bọc bằng bao hoạt dịch.
Hãm gân cơ mác trên (superior peroneal retinaculum) là một dải mạc dày từ mắt cá ngoài chạy
xuống dưới và ra sau để tới bám vào mặt ngoài xương gót. Nó giữ cho gân của các cơ mác dài
và ngắn áp vào mặt ngoài cổ chân; hai gan được bọc bằng một bao hoạt dịch chung. Hãm gân
cơ mác dưới (inferior peroneal retinaculum) là một dài mạc dày bám vào củ mác và vào xương
gót ở trên và ờ dưới các gân cơ mác.
5. MẠC GAN CHÂN
Mạc (mạc sâu) của gan chân dày lên tạo nên cân gan chân (plantar aponeurosis).
Cân gan chân có hình tam giác và chiếm vùng trung tâm của gan chân. Phần mạc phủ các cơ
giạng của ngón cái và ngón thứ hai thì vẫn mỏng. Đỉnh của cân gan chân bám vào củ gót. Nền
của cân gan chân chia ra ở ngang gốc các ngón chân thành 5 chẽ, mỗi chẽ lại tách đôi để bao
quanh các gân gấp và cuối cùng hoà lẫn với bao sợi gân gấp. Từ các bờ trong và ngoài của cân
gan chân, nơi nó liên tiếp với mạc phủ các cơ giạng ngón cái và ngón út, có các vách sợi chạy
lên vào gan chân và tham gia vào sự hình thành các ngăn mạc của gan chân.
---
Tài liệu gốc trên Google Drive: https://docs.google.com/document/d/1ktQMnFXDh1DRRA6z7BzFQs3WPNZS-DyR/edit?usp=drive_link&ouid=117234964786031655202&rtpof=true&sd=true